KỸ THUẬT TRỒNG TRỌT

  • VAI TRÒ CỦA CÁC CHẤT TRUNG VI LƯỢNG ĐỐI VỚI CÂY CÀ PHÊ

    Trong một thời gian dài khi canh tác cây cà phê, hầu hết nông dân chỉ quan tâm đến năng xuất cây trồng chứ ít quan tâm đến sự bền vững của môi trường sinh thái dẫn đến nhiều vùng đất trở nên cằn cỗi. Các loài vi sinh vật và sâu bệnh hại trong đất gia tăng, các triệu chứng thiếu trung vi lượng cũng xuất hiên trên cây ngày càng nhiều với biểu hiện: lá non bị mất màu xanh và biến dạng, xuất hiện các đốt đầu ngọn cành, ngọn thân cà phê ngắn lại, lá chuyển vàng bị mất màu xanh hay bị cháy, rụng quả hàng loạt … từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của cây cà phê. Để khắc phục tình trạng này, ngoài việc bổ sung một lượng phân hữu cơ nhằm làm gia tăng độ mùn trong đất, cải tạo hệ vi sinh vật có lợi cho đất, bà con nông dân nên lưu ý thêm chọn các loại phân có bổ sung các chất trung vi lượng cho cây.

    Các chất trung vi lượng như: canxi, magie, silic, bo nhằm giúp cây cân đối giữa các chất dinh dưỡng và ổn định năng xuất. Đặc biệt trong đó vi chất Bo rất cần thiết cho quá trình phân chia tế bào và quá trình thụ phấn của cây, giúp sự hình thành và phân hóa mầm hoa, tăng cường sức sống thụ phấn, tăng tỉ lệ đậu chặt giúp giảm rụng hoa và trái non. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì trong  giai đoạn ra hoa và phát triển của quả, hàm lượng tinh bột và các chất dinh dưỡng trong lá càng giảm thấp càng dễ dẫn đến hiện tượng rụng quả do thiếu hụt dinh dưỡng. Bên cạnh đó, việc bón phân thiếu cân đối, thiếu các chất trung vi lượng cũng làm cho cây cà phê xuất hiện hiện tượng rụng quả hàng loạt.

    Để giúp bà con khắc phục tình trạng này, công ty cổ phần phân bón Mỹ Việt đã nghiên cứu và sản xuất đưa thêm thành phần trung vi lượng vào phân hỗn hợp N-P-K nhằm giúp cây cà phê bổ sung và cân đối kịp thời các chất dinh dưỡng trong các giai đoạn phát triển. Sau khi đem thử việc sử dụng các sản phẩm có bổ sung thêm các chất trung vi lượng như: NPK 16-16-8+TE; NPK 18-8-16+TE; cho kết quả giúp bộ lá cây cà phê xanh hơn, kích thích quang hợp tốt hơn, đặc biệt khắc phục được tình trạng rụng quả non trên cây cà phê.

    Như chúng ta đã biết, trong một năm cây cà phê cần được bổ sung dinh dưỡng bằng phân bón ít nhất 4 đợt : 1 đợt vào mùa khô, 3 đợt vào mùa mưa. Sau khi chống rụng trái thành công vào giai đoạn cuối mùa mưa, cây cà phê cần tích lũy dinh dưỡng để nuôi trái, cành dự trữ trong mùa sau. Tuy nhiên 6 tháng mùa mưa, cây cà phê thường gặp các yêu tố gây hại trong đất nên ngoài việc cân đối các chất đa lượng, bà con cần bổ sung thêm các chất trung vi lượng như Magie, Silic, Bo bởi chúng kích thích hoạt động của nhiều enzim là thành phần của dược độc tố nên đóng vai trò quan trọng trong việc đồng hóa cacbonic và tổng hợp protein, giúp cây tăng trưởng nhanh, đẻ nhánh mạnh hạn chế bệnh do nấm, sâu, rầy.. tăng hiệu lực sử dụng phân đạm, giúp cây tránh được tình trạng ngộ độc Fe, Al và Mn quá cao do đất chua phèn, giúp bộ rễ phát triển mạnh giảm hiện tượng cháy lá, vàng lá do dư phèn.

    Trên thực tế, qua việc khảo nghiệm cũng như phát triển rộng rãi trên nhiều vườn cà phê Tây Nguyên đã khẳng định việc bổ sung các chất trung vi lượng là một giải pháp quan trọng góp phần giúp cây cà phê phát triển bền vững, nâng cao năng suất cây trồng, mang lại hiệu quả kinh tế cho nhà nông.

    (tham khảo: www. giongcaytrongeakmat.com)

  • KỸ THUẬT TRỒNG CHUỐI TIÊU HỒNG

    Cây chuối có chu kỳ kinh tế ngắn, mức đầu tư không cao, kỹ thuật không phức tạp. Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ chuối ngày càng mở rộng cho sản phẩm tươi và chế biến. Vì vậy, trồng chuối sẽ đem lại hiệu quả cao cho người sản xuất.

    1. Chuẩn bị đất trồng
    – Thích hợp với nhiều vùng đất
    – Phát triển tốt trên đất phù sa, thịt nhẹ, cát pha nhiều màu
    – Vùng đất trũng, thoát nước kém phải lên luống cao
    – Đào hố : Dài 40cm, rộng 40cm, sâu 40cm
    – Khoảng cách giữa các hố: từ 2m – 2.5m

    2. Phân bón lót cho 1 hố
    – Trung bình 1 cây chuối cần khoảng 20-25kg phân chuồng hoai mục, 0,8-1kg đạm, 1-1, 5kg lân, 2-3kg kali trong 1 năm.
    – Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân + 0,1kg đạm + 0,1kg kali. Bón thúc lần 1 sau khi trồng 1- 1,5 tháng, kết hợp với làm cỏ, xới xáo quanh gốc. Bón 1/2 lượng đạm và 1/3 lượng kali còn lại, cách gốc 30-40cm.
    – Bón thúc lần 2 sau lần 1 từ 1,5-2 tháng. Bón 1/2 lượng đạm và kali còn lại, cách gốc 1m.
    – Bón thúc lần 3 với lượng đạm và kali còn lại khi cây trổ buồng, bón cách gốc 1,5-2m. Nên đào 4 hốc xung quanh gốc, lấp phân sâu 7-10cm, tiến hành bón khi đất có độ ẩm 70-80%.
    – Khi chuối trổ buồng 15-20 ngày có thể dùng bao nylon trắng trùm kín buồng để hạn chế sâu bệnh.

    3. Chọn giống
    – Giống cây nuôi mô: Là giống được sản suất, nhân giống hoàn toàn trong phòng thí nghiệm đạt đầy đủ các tiêu chuẩn quy định
    – Giống được tách từ cây mẹ:
    Có chiều cao từ 70cm -1,2m, thân thẳng, sạch sâu bệnh và đã được sử lí kỹ thuật

    4. Mật độ và khoảng cách trồng
    Mật độ trồng khác nhau tùy thuộc vào đất đai, điều kiện khí hậu, giống, phương thức trồng, trình độ thâm canh, khả năng lao động và chu kỳ kinh doanh của vườn.
    Với điều kiện ở đồng bằng, mật độ trồng thích hợp là: 1,8 x 1,8 m tương đương 3.500 cây/ha.

    5. Thời vụ trồng
    – Vụ Thu: Tháng 8, 9, 10
    – Vụ xuân: tháng 2, 3
    Sau khi trồng cần ủ rác cho các cây và tưới giữ ẩm để cây mau bén rễ.

    6. Kỹ thuật trồng:
    – Bới hỗn hợp đất + phân trong hố
    – Tháo bỏ bầu túi nilon
    – Đặt gốc chuối vào giữa hố, vừa độ nông, sâu,cây thẳng đứng
    – Lấp kín đất,dùng chân giậm nhẹ
    – Tưới đủ nước ngay sau khi trồng
    – Sau khi chuối trổ hoa ra khoảng 10 đến 13 nải tiến hành bẻ bắp
    – Cột chống buồng chuối tránh gió, bão.

    7. Kỹ thuật chăm sóc
    Vườn chuối cần được thường xuyên chăm sóc đảm bảo cho cây sinh trưởng tốt, sớm ra hoa và đạt năng suất cao.
    – Tưới nước
    Thời gian hạn, ít mưa cần phải tưới. Đặc biệt chú ý giai đoạn khi cây phân hóa hoa (sau trồng 8 – 10 tháng) đến khi quả lớn đẫy. Theo tính toán tưới 1ha từ 30 – 63 m³/ha/ngày (tùy thuộc vào điều kiện cụ thể để đảm bảo 80% sức giữ ẩm của đất trồng).
    – Tỉa mầm, định chồi và vệ sinh vườn
    Trong thời kỳ nóng và ẩm, cây mẹ đẻ con chồi nhiều, cần tỉa bớt chỉ định lại 1 – 2 chồi con và khống chế mật độ trong vườn cây, điều tiết sự sinh trưởng của cây mẹ và con. Việc định chồi phải làm thường xuyên bằng các biện pháp cơ giới hay sự dụng các hóa chất.
    Đồng thời với tỉa mầm, định chồi cần tiến hành vệ sinh như cắt bỏ lá khô, lá bệnh, cắt bỏ hoa đực, bao buồng bằng túi PE đục lỗ, phòng trừ cỏ dại, khơi rãnh tiêu nước cho vườn…
    – Bón phân cho chuối
    Nhu cầu dinh dưỡng cho chuối khá cao, đặc biệt phân kali, đạm là yếu tố ảnh hưởng rất lớn không chỉ đến thời gian sinh trưởng, năng suất quả mà còn cả đến phẩm chất, khả năng vận chuyển, cất giữ quả.
    Lượng phân bón cho 1 cây như sau: Đạm 100 – 200g, lân 20 – 40g, kali 300 – 400g; phân hữu cơ 5 – 10kg, bón trước khi trồng.
    Thời gian và cách bón có thể chia làm các đợt sau:
    + Bón trước khi trồng: Bón phân hữu cơ và 1/2 lân + 1/4 kali.
    + Bón lần 2: Sau khi trồng 2 tháng, bón 1/4 đạm, 1/2 kali, bón nông, xới nhẹ trên mặt kết hợp ủ gốc cho cây.
    + Bón lần 4: Bón nuôi quả với 1/4 đạm, 1/4 lân và 1/4 kali.
    Các loại phân sau khi bón cần phải vùi lấp tránh mất mát do quá trình oxy hóa. Phân hữu cơ có thể bón theo rãnh, bón lót. Có thể chia lượng phân thành ít đợt hơn, song cần chú ý đến giai đoạn sau thu hoạch, phân hóa hoa và nuôi quả. Ngoài ra, còn bổ sung cho cây các loại phân vi lượng bằng cách bón trực tiếp vào đất hoặc phun lên lá cùng với thuốc bảo vệ thực vật.

    8.  Phòng trừ sâu bệnh
    Các loại sâu bệnh phổ biến và gây hại lớn đáng chú ý sau:
    * Bệnh gây hại chủ yếu
    – Bệnh đốm lá Sigatoka: Bệnh phát triển trong điều kiện ấm, ẩm ở nhiệt độ 26 – 28˚C, mù trời, độ ẩm cao. Phòng trừ bệnh bằng các loại thuốc trừ nấm Diathane, Benlat, Topsin, Baycor…
    – Bệnh vàng lá Moko: triệu chứng là lá non bị vàng. Bệnh lây lan qua vết thương cơ giới khi đánh bỏ con chồi. Phòng trừ bằng cách xử lý dụng cụ tách con chồi, chặt bỏ cây bệnh, xử lý đất hoặc thay đổi giống.
    – Bệnh vàng lá Panama (héo rũ): Bệnh liên quan nhiều đến tình hình dinh dưỡng trong đất như mùn thấp, cấu trúc đất xấu, hàm lượng kẽm thấp, tỷ lệ Ca/Mg và K/Mg cao thuận lợi cho nấm bệnh phát triển.
    Việc trừ bệnh là khó khăn nên chủ yếu là phòng bệnh. Phòng bằng biện pháp kiểm dịch, xử lý con chồi, cải thiện lý hóa tính của đất, sử dụng giống kháng bệnh.
    Ngoài ra chuối còn bị bệnh thối nõn, thối nau quả, đốm đen quả… hoặc các bệnh sinh lý như thối nhũn thịt quả, đông vón thịt quả hoặc hóa vàng thịt quả.
    * Sâu gây hại chủ yếu
    – Sâu đục thân chuối: cần phân biệt loại sâu đục thân giả của cây phá hoại thân giả và sâu đục thân thật còn gọi là sâu vòi voi phá hoại chủ yếu ở thân thật dưới mặt đất. Phòng trừ chủ yếu là xử lý đất quanh gốc, vệ sinh các lá khô trên cây, đặt bẫy bả, khơi thoát làm thông thoáng vườn. Có thể sử dụng thuốc: Shepa (0,2 – 0,3%) hoặc Sumicidin, Polytrin…
    – Sâu hại lá chuối: bao gồm các loại sâu róm, sâu cuốn lá… gây hại trên phiến lá. Phòng trừ bằng cách cắt bỏ các lá bị sâu hại sống tập trung, phun thuốc trừ. Có thể sử dụng: Viben C, Daconil (0,3%)…
    – Sâu hại hoa, quả: Hoa và quả thường bị các loại sâu như bọ trĩ, nhện, bọ vẽ ăn hại, ăn các phần của hoa, vỏ của quả non để lại các vết sẹo, ghẻ, xấu mã quả. Để khắc phục các loại sâu này, cần tiến hành bao buồng hoa, quả bằng túi PE đục lỗ.
    * Tuyến trùng hại chuối
    Tuyến trùng là tên gọi chung của những sinh vật nhỏ sống trong đất gây hại rễ. Phòng trừ chúng chủ yếu là xử lý đất bằng các loại thuốc xông hơi như loại 1 – 2 dibromo-3 chloropane (DBCP) hoặc các chế phẩm khác.

    9. Thu hoạch
    Những căn cứ để xác định điểm thu hoạch quả là:
    – Căn cứ vào hình thái quả như màu sắc, hình dạng quả và núm quả.
    – Căn cứ vào chỉ số quả: giữa trọng lượng quả (g) và chiều dài quả (cm).
    – Căn cứ vào dộ nhớt hoặc độ chắc của thịt quả qua các máy đo chuyên dụng.
    – Căn cứ vào thời gian ra hoa đến thu hoạch: 2,5 – 3 tháng.
    – Thời điểm thu hoạch còn phụ thuộc vào thị trường tiêu thụ, khoảng cách từ nơi trồng đến nơi tiêu thụ
    Sau khi cắt buồng, bà con nên dựng vào nơi thoáng mát cho chảy bớt nhựa trong 2-3 ngày. Dùng dao, kéo sắc ra nải đem rấm bằng đất đèn hoặc lá xoan + đốt hương đen./.
    Ngoài nguồn thu từ Chuối quả người trồng cây Cuối tiêu hồng còn có nguồn thu thường xuyên từ lá chuối, chồi chuối, bẹ chuối và các cây nông nghiệp chồng xen ngắn ngày khác(đậu tương, lạc, bí…vv.).

    Theo: http://kythuatnuoitrong.edu.vn

  • LỢI ÍCH CỦA TRỤ SỐNG CHO CÂY HỒ TIÊU

    Cây tiêu có thể được trồng trên trụ chết như trụ gỗ, trụ xi măng, gạch… và trên các loại cây trụ sống như lồng mức, muồng đen, keo dậu, cau…có rất nhiều lợi ích cho hồ tiêu trong quá trình sinh trưởng và phát triển. Đây được như là một xu hướng mới trong việc trồng tiêu, được khuyến khích sử dụng, giảm thiểu nhiều rủi ro và chi phí cho nhà nông trong quá trình chăm sóc cây như sau:

    Tạo ra một hệ sinh thái thích hợp cho cây hồ tiêu sinh trưởng, phát triển trước những ảnh hưởng cực đoan của biến đổi khí hậu.

    Che bóng ở một mức độ nhất định là cần thiết cho sinh trưởng và phát triển của cây tiêu. Khi trồng dưới ánh sáng trực tiếp, không có cây che bóng, cây có biểu hiện rối loạn sinh lý.

    Dây tiêu leo bám lên cây trụ sống có tỷ lệ bệnh thấp hơn là phát triển trên cây trụ gỗ, kết quả làm tăng năng suất tiêu.

    Cây trụ sống có tác dụng điều hòa nhiệt độ, ẩm độ vườn tiêu, hạn chế tác hại của nắng nóng nên các vườn tiêu trồng trên trụ sống có chu kỳ tưới dài hơn hơn từ 20 – 30% so với trồng trên trụ chết.

    Tại Việt Nam, Ở vùng Đông Nam Bộ, hầu hết nông dân trồng tiêu trên cây trụ sống như cây gòn, keo (chiếm 92,0%).

    Vùng Tây Nguyên, việc trồng cây trụ sống (cây muồng đen và cây keo dậu) cho cây hồ tiêu đã ngày càng được quan tâm, phổ biến nhiều vùng như Chư Kuin, Buôn Hồ (Đắk Lắk); Đắk Đoa, Mang Yang (Gia Lai). Đây là những cây thuộc họ đậu, vỏ nhám, tán lá nhỏ, có khả năng cải tạo đất…

    Các nghiên cứu cũng đã chứng minh chu kỳ khai thác của hồ tiêu trồng trên trụ sống dài hơn so với trồng trên trụ chết từ 20 – 50%. Ngoài ra, khi trồng tiêu trên trụ sống sẽ giảm chi phí đầu tư trong thời kỳ trồng mới. Do vậy, giúp giảm giá thành, hạn chế rủi ro cho người trồng tiêu khi gặp điều kiện khô hạn.

    Đối với cây trụ mới trồng trong thời gian kiến thiết cơ bản không nên rong tỉa cây trụ sống nhiều làm hạn chế đến sinh trưởng. Trong thời kỳ kinh doanh cần rong tỉa định kỳ 2-3 lần tùy loại cây trụ để đảm bảo năng suất tiêu.

    TS. Đặng Bá Đàn

    Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

  • KỸ THUẬT CANH TÁC RAU TRONG MÙA MƯA

    Đối với kỹ thuật canh tác mùa mưa có những khác biệt so với mùa khô. Trước hết, đối với đặc tính của cây rau nói chung là nhóm cây trồng sử dụng nước tưới nhiều. Nhưng nếu trong trường hợp ngập nước, úng nước thì cây rau nói chung lại khó phát triển, bộ rễ bị thối và cây sẽ chết.

    Do đó việc canh tác rau trong mùa mưa, người trồng cần chú ý chọn ruộng có địa hình cao ráo có khả năng tiêu thoát nước tốt. Đối với chân ruộng thấp trước hết phải tiến hành làm luống cao, có rãnh thoát nước tốt. Xung quanh cần củng cố bờ bao vững chắc và trang bị máy bơm để phòng chống lại các trường hợp mưa lớn, gây ngập úng tạm thời.

    Đối với những loại rau: như cải bắp, khổ qua, dưa leo, ớt, đậu đũa, côve…biện pháp sử dụng màng phủ công nghiệp là giải pháp tối ưu. Vì, như vậy sẽ kiểm soát được độ ẩm trong đất. Mùa mưa lượng nước mưa không trực tiếp rơi xuống mặt luống nên bộ rễ không bị úng nước do thiếu Oxy, mặt luống không bị trơ mòn làm trơ rễ. Đất tơi xốp suốt vụ giúp duy trì độ ẩm ổn định suốt mùa vụ, bộ rễ rau lan tỏa khắp liếp. Sử dụng màng phủ công nghiệp còn giảm tối đa công làm cỏ. Cây trồng có lá già không trực tiếp tiếp xúc với mặt đất nên làm giảm được nguồn nấm gây bệnh lây lan từ đất. Một số côn trùng do ảnh hưởng của màng phủ nên không có chổ trú ẩn, khả năng gây hại giảm: như bù lạch, rầy mềm trên dưa hấu, sâu ăn tạp. Từ đó giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật phải phun xịt. Khi bón phân vào ruộng rau có màng phủ sẽ giảm sự rửa trôi phân bón, đặc biệt giảm bốc hơi và rửa trôi phân đạm bón vào.

    Đối với nhóm rau ăn lá thì nên trồng trong nhà lưới. Nhà lưới sẽ làm giảm tối đa tác hại của mưa rơi trực tiếp xuống bộ lá, không làm rách lá hoặc làm đất bắn lên gây rách và thủng lá. Giảm được sự truyền bệnh do xây xát. Sử dụng lưới màu trắng. Có thể che phủ lưới trên luống hoặc làm nhà lưới.

    Vào mùa mưa cần lưu ý biện pháp phòng trị bệnh thối nhũn (do vi khuẩn gây ra) trên nhóm cây họ thập tự. Do đó, cần tăng cường phân bón hữu cơ hoai mục, phân hữu cơ sinh học. Đặc biệt lưu ý là phải bổ sung thêm NPK Mỹ Việt như: 30-10-10, 15-15-15 nhằm cân đối dinh dưỡng cho cây. Khi chăm sóc tránh làm xây xát cây. Nhặt bỏ lá già, nhổ bỏ cây bệnh nặng rồi rắc vôi vào gốc. Cần chú ý bệnh gỉ trắng do  loại nấm Albugo ipomoea gây ra. Bệnh phát sinh trên lá lúc đầu là những vết nhỏ, sau lớn lên làm cho lá co lại. Lá sẽ bị vàng và rụng héo. Đối với bệnh đốm lá, sương mai, thán thư trên dưa leo, khổ qua, cà chua, cà tím

    Biện pháp phủ luống hay nhà lưới đều hiệu quả trong canh tác rau trong mùa mưa.

     

  • MỘT SỐ LƯU Ý KHI BÓN PHÂN CHO CÂY ĂN TRÁI

    Đối với cây đang ở giai đoạn tăng trưởng: thường gọi là giai đoạn kiến thiết cơ bản (tức là cây được tính từ khi mới trồng đến khi chuẩn bị cho năm bói đầu tiên), cần đảm bảo mật độ hố trồng, kỹ thuật đào hố, liều lượng, tỷ lệ và chất lượng các loại phân bón lót hữu cơ Mỹ Việt 3 con gà.

    Cây con trong thời kỳ này phải được bón phân thường xuyên (1-2 tháng cho 1 lần bón) ưu tiên tỷ lệ phân chứa N cao hơn nhằm giúp cây tăng sinh trưởng. Ưu tiên bón phân NPK theo tỷ lệ 3:2:1 hoặc 3:1:1 tương ứng với các công thức NPK 20-16-8, 30-10-10. Thường xuyên xới xáo và chú ý giữ ẩm, chống đọng nước trong bồn và trong hố trồng để tạo độ thông thoáng khí, giúp cho bộ rễ phát triển mạnh và nhanh hơn.

    Đối với cây đang ở giai đoạn kinh doanh: (được tính từ vụ bói quả đầu tiên trở đi). Trong giai đoạn này, cây ăn quả nói chung muốn bảo đảm cho năng suất cao và ổn định cần lưu ý: Việc bón phân phải được chú trọng trong 4 thời kỳ (4 đợt bón) của một chu trình mùa vụ như sau:

    Đợt 1: Tính từ khi kết thúc thu hoach vụ trước cho đến khi cây phục hồi sinh trưởng, tăng cường quá trình tích lũy dinh dưỡng. Trong thời kỳ này cần ưu tiên bón phân hữu cơ, phân NPK Mỹ Việt 20-5-5, 20-5-6, 20-6-6 nhằm nhanh chóng giúp cây trồng phục hồi sức khỏe sau một thời gian dài phải huy động dinh dưỡng nuôi trái. Tạo tiền đề tốt cho việc tích lũy dinh dưỡng giúp cho các giai đoạn kế tiếp. Với một số cây ăn trái có thời gian từ khi kết thúc thu hoạch đến ra hoa vụ kế tiếp quá ngắn thì cần phải bón phân đợt 1 sớm, khi việc thu hoạch trái vụ trước đã đạt từ 70-80%. Đồng thời ở đợt bón phân này cũng cần bổ sung cả những loại phân bón lá nhằm tăng cường khả năng phục hồi và tích lũy chất trong cây (giúp đâm chồi nhánh mới và phát triển bộ lá).

    Đợt 2: Được tính từ sau khi đã kết thúc đâm đọt lá non đã chuyển hoàn toàn sang lá già (Chú ý: cây Cam, Quýt, Bưởi, Chanh thì phải bón trước khi đâm đọt mới vì nhóm cây này khi đâm đọt đồng thời với trổ bông). Giai đoạn này cần chú ý bón tăng tỷ lệ phân lân (P) nên dùng NPK Mỹ Việt 16-16-8, 20-16-8, 20-20-15 nhằm giúp cho tỷ lệ C/N của cây tăng cao, thuận lợi cho quá trình hình thành mầm hoa, phát triển hoa. Giai đoạn này cũng cần bổ sung thêm các chất vi lượng (đặt biệt là vi lượng B) nhằm tăng thêm số lượng, chất lượng và sức sống của hạt phấn, giúp cho việc thụ phấn thụ tinh được dễ dàng sẽ giảm tỷ lệ rụng hoa, giúp cho cây ăn trái trổ hoa đều, tập trung.

    Đợt 3: Được tính từ sau thụ phấn đến khi trái hoặc chùm trái phát triển tối đa về thể tích. Giai đoạn này cần bón cân đối các chất đa lượng NPK Mỹ Việt 16-8-16, 17-7-17, 18-8-18, và cả các chất trung và vi lượng nhằm giúp hạn chế tỷ lệ rụng trái, nhằm tăng nhanh việc phát triển thể tích trái và vỏ trái tạo điều kiện cho việc tăng số quả / cây và tăng trọng lượng trung bình quả. Đây là 2 chỉ tiêu quan trọng cấu thành năng suất.

    Đợt 4: Được tính trong khoảng thời gian trước thu hoạch 1 tháng. Đây là giai đoạn tích lũy và chuyển hóa các chất trong trái, tăng độ chắc của trái và tăng chất lượng của trái. Giai đoạn này rất cần chất kali (K) để tăng cường quá trình vận chuyển chất dinh dưỡng từ lá cây vào trái (Lượng K > N), rất cần thêm tỷ lệ chất đạm (N), chất calci (Ca) và vi lượng (TE) để giúp cho độ bóng, độ dãy của vỏ được phát triển tốt làm tăng giá trị thương phẩm, hạn chế sự tấn công của mầm bệnh. Thúc đẩy nhanh quá trình chín sinh lý và sinh thái của trái, giúp cho việc chín đồng loạt và tăng chất lượng trái. Đợt bón này cần ưu tiên sử dụng các dạng phân có nhiều Ca; Một số phân thông dụng như : 12-12-18, 16-9-21, 17-7-21.

  • CHĂM SÓC CÀ PHÊ VÀO MÙA KHÔ

    Mùa khô ở Tây Nguyên thường kéo dài từ tháng 11 đến trung tuần tháng 4 hàng năm. Vào đầu mùa khô thường có những đợt gió lạnh, nhiệt độ xuống thấp nhưng vào giữa và cuối mùa khô, trời nắng nóng kéo dài, nhiệt độ tăng cao. Đây cũng là giai đoạn cây cà phê phân hóa mầm hoa, hình thành hoa và nở hoa, đậu quả, quả non phát triển, là giai đoạn ảnh hưởng quan trọng đến năng suất, chất lượng của cà phê. Bài viết dưới đây nhằm cung cấp cho bà con nông dân cách bón phân hợp lý nhất để cà phê sinh trưởng và phát triển tốt, có năng suất cao, chất lượng tốt và gia tăng thu nhập cho người trồng cà phê.

    Làm sao khắc phục hiện tượng năm được mùa năm mất mùa trên cây cà phê?
    Cà phê cũng như các cây trồng khác, nếu năm này năng suất cao thì năm tiếp theo năng suất có xu hướng giảm. Điều đấy là bình thường vì vụ trước cây đã huy động tối đa năng lực để cho năng suất cao nên dinh dưỡng không còn đủ cho năng suất cao ở vụ kế tiếp.
    Cây cà phê bị hiện tượng năm được năm mất trước hết là do các nguyên nhân khách quan và chủ quan. Khách quan là do các điều kiện thời tiết, dịch hại, chủ quan là quy trình chăm sóc không đạt nhu cầu như cây cà phê đòi hỏi. Các điều kiện chủ quan trước hết là có thể do bà con đã không chọn được giống tốt. Các giống do Viện Khoa học Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên phóng thích trong thời gian qua đã khắc phục được hiện tượng năm được năm mất.

    Nguyên nhân thứ 2 là không có cây che bóng. Nhiều bà con đã đánh giá không hết tác dụng của cây che bóng nên vườn cà phê bị nắng, nóng, bị mặt trời thiêu đốt quá dữ trong mùa khô khiến cho cây bị ảnh hưởng nặng nề; một nguyên nhân khác là bà con chưa nắm vững quy trình kỹ thuật chăm sóc nên việc tưới nước đúng lúc, đủ và bón phân không kịp thời.
    Bà con chú ý rằng với dinh dưỡng thì năng suất vụ trước càng cao thì càng phải tăng lượng bón và số lần bón. Tuy nhiên, việc chăm sóc cây khỏe ngay từ đầu, từ năm trước là hết sức quan trọng. Nếu cây không khỏe thì khả năng hấp thu dinh dưỡng cũng hạn chế cho dù có được bón nhiều phân hơn. Nếu thực hành đúng các quy trình chăm sóc cà phê thì sẽ hạn chế được bất lợi do các yếu tố khách quan, giảm thiểu được hiện tượng năm được năm mất.

    Cách bón phân cho cà phê trong mùa khô như thế nào?
    Trong thực tế, bà con nông dân thường chỉ bón phân urea hay sunphát amôn (SA) trong mùa khô kết hợp với tưới. Đây là những các dạng phân đạm dễ tan và việc bón các loại phân này đã đáp ứng một phần nhu cầu đạm của cây nên cà phê có xanh tốt hơn.
    Tuy nhiên, nếu chỉ bón phân đạm như trên thì không đáp ứng được nhu cầu lân, kali và các trung vi lượng của cây cà phê trong giai đoạn phân hóa mầm hoa, nở hoa, đậu quả trong mùa khô. Sở dĩ nông dân thường bón urea hay SA là vì các loại phân bón trong mùa mưa không hoàn toàn thích hợp để bón cho cà phê mùa khô và trong những năm trước đây nông dân không có nhiều sự lựa chọn khác.
    Tuy nhiên hiện nay bà con nông dân đã có thể yên tâm nhờ phân bón Mỹ Việt mùa khô,  hay Mỹ Việt NPK 20-6-6-13S+TE, chuyên dùng cho cây cà phê. Với thành phần đạm cao, lân và kali vừa phải và đầy đủ các chất trung và vi lượng, phân bón Mỹ Việt giúp cà phê hồi phục nhanh sau thu hoạch, thúc đẩy phân hóa mầm hoa tốt, ra nhiều hoa, hoa nở đều và tập trung, tỷ lệ đậu quả cao, chống rụng trái non.

    Trong mùa khô có thể bón từ 2-3 lần phân Mỹ Việt với lượng 20-30kg/1000m2/lần, kết hợp với các đợt tưới. Nếu thu được năng suất cao thì cây mất sức nhiều nên cần phải bón lượng cao. Bón ngay khi tưới nước lần đầu bằng cách xả nước vào bồn cho gần đủ lượng nước cần tưới để nước ngấm xuống tầng đất dưới. Rải phân vào bồn rồi tưới lại để phân tan ra ngấm vào tầng đất mặt, hạn chế thất thoát phân bón. Vào cuối mùa khô, quả cà phê đã vào giai đoạn lớn nhanh, lúc này nhu cầu lân và kali của cà phê tăng cao, mặt khác cũng là thời điểm đất khô kiệt nhất, lân và kali hòa tan trong đất giảm mạnh nên có thể dùng phân NPK 16-16-8+TE, NPK 20-20-15+TE để bón kết hợp tưới lần cuối giúp cây cà phê tăng trưởng tốt, ra hoa, đậu quả tập trung, nhiều quả, hạn chế rụng quả non, năng suất tăng cao, chất lượng cà phê tốt.
    Nhiều người cho rằng giai đoạn phục hồi sau thu hoạch rất quan trọng, quyết định năng suất vụ sau. Có đúng không?
    Đúng. Cũng như người phụ nữ sau mỗi lần sinh nở thì cần có thời gian nghỉ ngơi, bồi dưỡng phục hồi. Hơn thế nữa, sau khi thu hoạch, cây cà phê gặp điều kiện bất lợi ngay, đấy là gặp mưa lạnh ở thời điểm đầu và khô hạn, nóng sau ở thời điểm trước và sau Tết Nguyên đán. Bởi vậy việc khẩn trương phục hồi cho cây là hết sức quan trọng. Điều cần làm ngay sau thu hoạch là vệ sinh vườn, cắt cành tỉa nhánh, phát hiện sâu bệnh hại, tưới nước và bón phân đúng thời điểm sau khi đã có thời gian khô kiệt vừa đủ.

    Trên thị trường hiện có loại phân NPK chuyên dùng cho mùa khô. Tác dụng của chúng như thế nào?
    Mùa khô thường ít nước nên cần loại phân tan nhanh. Thông thường, các loại phân hóa học đều sử dụng công nghệ chậm tan để tăng hiệu quả sử dụng. Trước đây trên thị trường chỉ có urea và SA là tan nhanh nên bà con thường sử dụng, nhưng nhu cầu của cây cà phê không chỉ có đạm mà cần nhiều yếu tố khác để giúp ra hoa đồng loạt, thụ phấn tốt, đậu quả nhiều và chống rụng trái non.
    Bởi vậy xu hướng hiện nay bà con chuyển sang dùng NPK có bổ sung các trung vi lượng. Thị trường hiện có nhiều hãng cùng sản xuất phân NPK mùa khô cho cà phê. Đặc điểm chung là chúng đều có hàm lượng NPK gần giống nhau, trong đó hàm lượng đạm cao, lân và kali thấp. Công ty cổ phần phân bón Mỹ Việt đưa ra thị trường loại phân chuyên dùng cho cà phê mùa khô ngoài các yếu tố đa lượng tan nhanh thì các vi lượng, hợp chất đặc chủng chuyên dùng vừa đủ cũng đưa ở dạng dễ tan giúp cây hấp thu nhanh và tốt hơn, nên chắc chắn sẽ đáp ứng được nhu cầu cho cây cà phê.
    Ngoài ra, cần tỉa những cành khô, cành sâu bệnh, cành già, cành còi cọc hay cành vô hiệu mọc trong tán sát mặt đất hay những cành thứ cấp quá dày vượt trên tán ngay sau khi thu hoạch. Vào cuối mùa khô, sau khi đã bón phân, cành vươn dài thêm, một số cành mới mọc ra, cần tỉa cành tiếp để sửa tán nhằm có được bộ tán cân đối, hợp lý, tập trung dinh dưỡng nuôi quả để có năng suất cao. Cần chú ý phòng trừ rệp sáp, rệp vẩy, bọ xít trong mùa khô, đặc biệt chú ý đến rệp sáp.

  • 5 CÔNG DỤNG TUYỆT VỜI CỦA RONG BIỂN VỚI CÂY TRỒNG

    Công dụng của rong biển đối với cây trồng đã được các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu thành công và điều chế thành loại phân bón chuyên dụng dành cây có màu nâu đậm, đặc trưng của rong biển. Hiện nay phân bón từ rong biển đã được nhiều nước sử dụng và đánh giá tốt bởi những công dụng tuyệt vời mà nó mang lại.

    Với những đặc tính của rong biển như: có sức sống mãnh liệt, chống chọi tốt với mọi điều kiện thời tiết khắc nghiệt, sức đề kháng mạnh…nên được chiết xuất ứng dụng vào sản xuất phân bón với những công dụng tuyệt vời sau:
    – Giúp đất tươi xốp, cải tạo đất trồng.
    – Giúp cây trồng phát triển mạnh hệ rễ, tăng khả năng hấp thụ phân bón.
    – Giúp tăng cường quang hợp, cây phát cành tốt.
    – Giúp cây khỏe mạnh, kháng bệnh tốt, năng suất vượt trội.
    – Giúp cây trồng cho trái lớn nhanh, trái đồng đều, chống rụng trái non.